Thiên nhiên là một trong những đề tài vĩnh cửu của văn chương. Hầu như nhà văn, nhà thơ nào cũng quan tâm đến việc khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên. Vì đó là nơi để họ trổ tài năng nghệ thuật của mình, cũng như các họa sĩ thi nhau vẽ những bức tranh phong cảnh thật đẹp để khán giả trầm trồ chiêm ngưỡng. Đặc biệt, cảnh vật còn có một chức năng quan trọng hơn là tạo bối cảnh và chuyển tải tư tưởng, tình cảm của tác giả và nhân vật. Với vị trí như vậy, hình tượng thiên nhiên được xem như là một "nhân vật" quan trọng trong nhiều tác phẩm. Trong tiểu thuyết Việt Nam thời chiến tranh, có lẽ Mùa hoa dẻ (1957) của Văn Linh là tác phẩm xây dựng thành công nhất hình tượng thiên nhiên có sức làm say đắm lòng người
Tác giả kể về cuộc tình trắc trở của đại đội trưởng Liêu và cô thôn nữ tên Hoa ở làng Phước Sơn ven bờ sông Gianh tỉnh Quảng Bình. Câu chuyện có nhiều tình huống gay cấn như một vở kịch được dàn dựng trên sân khấu với mỗi màn là một cảnh riêng, mỗi mùa là một bức tranh riêng. Và mỗi tâm trạng vui buồn của nhân vật cũng có một bức tranh riêng dành cho tâm trạng ấy. Xem sự luân phiên các bức tranh phong cảnh, ta cũng có thể hiểu được diễn biến của tình yêu cũng như tình hình chiến sự của đất nước. Đặc biệt là tác giả có ý thức dùng không gian để chỉ thời gian. Cũng giống như thơ và họa vẫn thường vẽ lá ngô đồng rụng để chỉ mùa thu, vẽ cánh phượng hồng để chỉ mùa hè ly biệt. Thứ tự các mùa trong tiểu thuyết "Mùa hoa dẻ" đều nằm trong ý đồ nghệ thuật của tác giả. Mở đầu tác phẩm là mùa hè và bạn đọc cảm nhận điều này qua tiếng chim tu hú, tiếng đỗ quyên, tiếng ve, hoa dẻ, đặc biệt là bến nước. Vì mùa hè nóng nực nên sông nước trở thành nơi hội tụ của dân làng. Ở đó hình thành nên một "không gian công cộng" và mọi số phận, tính cách... đều được soi chiếu trên bờ sông này. Cũng tại đây mở đầu một sự cố mà sau này xuyên suốt tác phẩm: đó là chuyện cô Hoa bị té xuống sông rồi chìm ngủm trong dòng nước. Toàn bộ dân làng và bộ đội chạy ra, và mặt nước sông đã soi rõ ai có tình người sâu sắc - nông cạn, ai dũng cảm - hèn nhát... Liêu đã dũng cảm cứu Hoa rồi tình yêu thầm kín của họ nảy nở từ đấy.
Bến sông trở thành nơi cho họ kiếm cớ gặp gỡ. Thiên nhiên đã thúc giục họ lấy nhau sớm: "Những con chim gáy, cứ như kẻ tiếc thời gian, gáy giục giã, có con vỗ mạnh đôi cánh, bay vút như một mũi tên, bắn thẳng lên trời xanh... Nhưng, ở làng Phước Sơn này, buổi sáng mùa hạ bao đời nay vẫn rất yên ả, gió thổi lất phất, khí trời dịu mát. Tiếng ve buổi sáng nghe cũng trong hơn không đến nỗi dục buồn". Chúng ta lưu ý từ "nhưng" nối liền giữa hai vế đối lập nhau. Dân làng Phước Sơn "yên ả" không vội vã bởi họ không biết gì về mối tình thầm kín của hai người. Nhưng "nhân vật thiên nhiên" thì biết nên mới "tiếc thời gian", "giục giã" họ đến với nhau. Thiên nhiên còn bày cảnh lễ cưới, cảnh hạnh phúc lứa đôi ngọt mật để khêu gợi chuyện hôn nhân "Hoa đang ngồi dệt ở khung cửa. Cô ngừng tay đưa thoi, nhìn qua cửa sổ ra lối đi. Trên hai bờ chè mạn hảo có dây tơ hồng leo, mấy con chim vành khuyên ríu rít tìm sâu cắn mỏ tí tách. Ở giàn bầu phía cuối sân, những cánh bướm vàng nhởn nhơ hút mật quanh hoa bầu". Qua khung cảnh như vây, bạn đọc thừa hiểu Hoa đang nghĩ tới điều gì, nếu bỏ đoạn văn tả cảnh này đi, cũng như nhiều đoạn văn tả cảnh khác thì sẽ mất đi một phần nội dung tác phẩm. Một mối tình đẹp là mối tình không lộ liễu ồn ào, bởi vậy, tác giả để cho thiên nhiên nói dùm họ: "Chẳng hiểu có phải cố tình hay không, Liêu cứ ngước nhìn mãi một điều gì cao trên ngọn cây tre. Hoa cũng ngước nhìn theo. Hóa ra ở đấy có hai con chim đang rỉa lông cho nhau. Hoa cuối vội như người mắc lỡm, miệng tủm tỉm cười". Đó là lúc vui, còn lúc Hoa buồn nhớ người yêu thì "tiếng chim đa đa vọng trên đồng cỏ khắc khoải, buồn buồn". Tiếng chim đa đa (gia gia) không chỉ tạo không khí mùa hè mà còn có tác dụng xui họ nghĩ đến chuyện lập gia đình. Mùa hè tạo điều kiện cho họ gặp gỡ nhưng tình yêu của họ được thử thách trong mùa thu. Đó là mùa của tình yêu đôi lứa, nhưng có chút bi kịch là họ không được gần nhau vì Liêu đã theo đơn vị ra đi. Cho nên đó là "mùa thu nhớ mong của nhiều đôi lứa đang xa nhau". Liêu đi xa để lại Hoa với cánh đồng "lúa đang thì con gái, xanh mơn mởn". Thầy giáo Khang ở trọ nhà Hoa đã đốt thư và địa chỉ của Liêu để cắt đứt liên lạc của hai người. Khang chiếm được cảm tình của mẹ và anh trai của cô nên lễ dạm cưới diễn ra. Cô lại chạy ra bến nước, giờ đây trở thành người bạn tâm tình tri kỷ của cô. "Như một kẻ mất hồn, Hoa đến với bến nước, bờ sông.. nơi ngày nào tưởng đã đón cô ra đi, nơi chính cô đã được bọc trong vòng tay Liêu để trở lại với cuộc sống... Cũng gốc xoan mà Hoa đang dựa mình, ngày nào ở đó, cô đứng ngắm nhìn Liêu bơi lội giữa sông như một con rái cá (...) Sao anh không về? Anh có biết em đau khổ thế nào không? (...) Về mà cứu em lần nữa! Anh Liêu ơi!". Hình tượng bến nước như một lực lượng thiên nhiên có chức năng thử thách con người: dìm Hoa xuống sông để Liêu có dịp ra sức anh tài, sau đó, bến nước làm mai mối cho họ đến với nhau. Nhưng giờ đây, Liêu ra đi để lại bi kịch cho Hoa nên dòng sông cũng buồn bã khóc than: "Trước mắt Hoa lúc này, dòng sông Gianh trôi nghiêng nghiêng dưới trăng lạnh lấp lánh như tráng bạc, sóng nước đang triền miên nức nở với bờ". Nhưng khi biết được lòng Hoa, thầy giáo Khang buồn bã rút lui, như chiếc lá mùa đông buồn bã rụng xuống để chuẩn bị chồi non hy vọng cho mùa sau. "Ngoài sân, những chiếc lá mận vội lìa cành khi đông sang, để chờ đón mùa xuân hoa trắng đua nỏ. Lá rơi lả tả trên sân, trong gió heo mây lành lạnh".
Hoa đã trải qua một mùa đông cô đơn lạnh lùng trong gió rét. Khung cảnh đó như có chức năng thử thách lòng chung thủy của cô. Đáng lẽ, trong mùa đông lạnh lùng ấy, cô phải sống trong vòng tay ấm áp của Liêu. Nhưng bi kịch này cũng vội qua nhanh khi mùa xuân - mùa của niềm tin hy vọng đã đến. "Đầu tháng chạp. Nắng cuối đông lóe lên chói chang, cố xua đuổi cảnh mưa dầm gió bấc, để đón bầu trời ấm áp mùa xuân - Xuân thứ bảy của cuộc kháng chiến trường kỳ (...) các bà mẹ, các chị đứng tuổi phong lên dây phơi những cặp áo cưới đủ màu sắc, nào màu hồng, màu lục mà bồi hồi nhớ lại cái ngày người ta đốt pháo đưa đón mình về nhà chồng... Tuổi thơ lộng lẫy trôi về với ký ức họ. Hẳn rằng, mỗi người sẽ mỉm một nụ cười nhớ đến đêm tân hôn "kỳ quặc"". Các cặp vợ chồng chuẩn bị trầu cau về lễ tết bên ngoại, hai bạn thân của Hoa là Thìn và Tân đang hớn hở "nấu bánh chưng cho lễ thành hôn của họ". Tác giả không nói rõ Hoa có buồn hay không nhưng rõ ràng bạn đọc đã hiểu tâm trạng đau khổ của cô lúc này. Văn Linh đã sử dụng bút pháp "lấy cảnh ngụ tình" làm cho câu văn giàu hình ảnh, đa nghĩa, gợi liên tưởng rộng rãi. Một đặc sắc nữa trong bố cục không gian của Mùa hoa dẻ là tác giả biết cách đặt hai không gian đối lập sát cạnh nhau để tăng ý nghĩa tác phẩm. Đầu tiên là cố vẽ ra một khung cảnh rực rỡ tươi vui của ngày tết "Không khí đã có vẻ tưng bừng. Ngoài vườn, nhà nào nhà nấy cam chín vàng, quýt chín đỏ, quả sai cành trĩu hạt. Nắng sớm mai óng ánh chiếu qua vòm lá vào từng vườn hàng ngàn tia ngang dọc như đan hoa. Một luống cải xanh, một cành mai hoa vàng đều chờ Tết đến". Theo quan niệm người Việt Nam, ngày tết là ngày vui vẻ nhất của một năm, và tất cả đất trời, lòng người tưng bừng cho ngày trọng đại đó. Nhưng bất ngờ thay, đó cũng là ngày đau buồn nhất của vùng quê này. Giặc kéo đến "Lửa cháy rừng rực. Tiếng bom đạn nổ long tai nhức óc (...) cả làng đang bị chà xát bằng bom đạn địch (...) Trẻ con như chết khiếp không hé nổi một tiếng khóc! Tiếng khóc la thảm thiết sợ hãi giành cho người lớn giữa lửa khói và tan tác, chết chóc". Xét từ góc độ nghệ thuật, nếu để cảnh chiến tranh diễn ra vào một mùa khác thì tính bi kịch sẽ giảm rất nhiều. Nhưng đặt chiến tranh vào cảnh đầu xuân thì giá trị phê phán sẽ tăng, vì nó dập tắt mùa vui của dân tộc, dặp tắt hy vọng tình yêu của tuổi xuân.
Trong bối cảnh đau thương đó, hình ảnh sân ga, con tàu đã xuất hiện đúng lúc. Đây là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc, có sức ám ảnh mãnh liệt đối với thi sĩ Xuân Quỳnh cũng như nhiều văn nghệ sĩ thời chiến tranh. Bản thân hình tượng con tàu - sân ga mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó là mạch máu nuôi sống quân đội "mỗi goòng đều đầy ắp những lương thực, thực phẩm tiếp vận cho mặt trận". Nó thể hiện cho ý chí quyết tâm lên đường đánh giặc. "Chính nơi nhà ga nhỏ bé ấy đã ủ ấp một sức sống mãnh liệt của những người thợ từng quyết rời bỏ quê hương êm ấm để ra đi kháng chiến lâu dài. Nhà ga ấy cũng từng chứng kiến hàng nghìn, hàng nghìn cuộc chia tay của các chiến sĩ, giã biệt đồng bào, giã biệt hậu phương lên đường ra với tiền tuyến". Sân ga là nơi chứng kiến nhiều cuộc chia tay cảm động, và trong số những người ra đi, có những người vĩnh viễn không bao giờ trở lại với cha mẹ, vợ con, người yêu, bạn bè. Bởi vậy nó ám ảnh sâu sắc trong lòng con người thời chiến. Đồng thời, sân ga cũng là nơi hội ngộ những cảnh đời, những gương mặt từ khắp các miền xa lạ. Cũng tại sân ga Lộc Yên, Liêu đã quen cô nữ sinh đa tình tên Hiền, mở đầu cho một cuộc tình ngắn ngủi. Con tàu - sân ga là một hình tượng không gian đặc sắc, đó là "không gian công cộng", "không gian điểm" (sân ga), "không gian tuyến" (đường ray), "không gian khối" (toa tàu). Đó là "không gian động" thể hiện nhịp đập thời đại, là "không gian xê dịch, phiêu lưu" thể hiện khát vọng đi xa của tuổi trẻ. Nó nối liền giữa hậu phương và tiền tuyến, giữa ước mơ và hiện thực. Mặt khác, nó cũng như một nhân vật biết vui buồn cùng với con người. Sân ga Lộc Yên lúc cao điểm của chiến tranh là một không gian buồn bã chìm trong mưa bay như nước mắt của đất trời "Bóng đêm mỗi lúc một nặng nề. Gió bấc từng trận, từng trận đuổi mưa bay. Mưa rơi dày như dệt màn. Nhà ga Lộc Yên lạnh lẽo nằm bên đường sắt". Con tàu cũng như người chiến sĩ dũng cảm căm thù giặc cao độ: "Đoàn goòng vẫn giương đôi mắt sáng quắc, chạy vun vút trong đêm, như một con thú rừng ngang tàng chốn sơn lâm không hề biết sợ hãi". Đó cũng là khí thế hăm hở lao ra trận tuyến để trả thù cho quê hương đang bị giày xéo.
Khung cảnh chiến tranh được miêu tả thật buồn bã, đó là "không gian âm u, vời vợi của đêm mùa đông". Nếu như trước chiến tranh, mùa đông trôi rất nhanh, tưởng chừng như không có mùa đông thì từ khi giặc đánh vào khu Bốn, "Mùa đông kéo dài lê thê. Hai bên đường, số lớn cây trút hết lá, giơ những cành nhánh khẳng khiu, mấy gốc xoan, gốc bàng chẳng khác chi những bộ xương người đói". Đó là cảnh vật trên đường Liêu về thăm lại làng Phước Sơn sau một năm rưỡi cách xa. Không gian bến đò rất quen thuộc với người dân Việt Nam lại hiện ra. Nơi đây chứng kiến bao nhiêu cuộc gặp gỡ, chia ly "cho đến chiều nay, dòng sông Gianh quen thuộc và thơ mộng đã hiện ra trước mắt Liêu, sóng nước bao la xao xuyến. Bên bến, con đò ngang đang cắm sào đợi khách trong mưa bay (...) Mưa giòng giòng như rây bột trên mặt sông. Dòng sông trong mưa càng rộng ra, bóng con đò trở nên cô đơn. Bến đò này năm trước từng chứng kiến một cuộc đưa tiễn kín đáo giữa Hoa và Liêu và cũng ngày ấy lòng hai người thầm giữ một lời hẹn ước". Bến đò đón Liêu vào một chiều mưa bay như nước mắt buồn cho đất nước chiến tranh, cho cuộc tình dang dở. Và ven sông là một bãi dâu "dâu mùa đông cũng xơ xác" như nhắc nhở sự đổi thay của dòng đời dâu bể. Làng Phước Sơn trù phú năm xưa, giờ đây "Trước mắt Liêu là một bãi hoang, không, một bãi chiến trường thì đúng hơn". Tìm đến nhà Hoa thì "Nếp nhà xinh xắn nay chỉ còn lại cái nền, cỏ dại mọc um tùm. Một chiếc chum vỡ nằm bên gốc cau cụt ngang thân. Giữa sân là một hố bom như cái vực, nước đọng xanh len lét". Những hình ảnh rất đắt gợi liên tưởng đến đám cưới như "chè mạn hảo", thân cau bị bom đạn tàn phá gợi liên tưởng đến cảnh hôn nhân tan vỡ. Hai khung cảnh đối lập giữa xưa và nay được đặt xen kẽ nhau để tăng sức phê phán chiến tranh. Người buồn được bao bọc trong một "không quyển" buồn và một "thời gian buồn". Chỉ có hoàng hôn mới thể hiện sâu sắc nỗi buồn của Liêu lúc này "Liêu cắn răng, chực trào nước mắt, như người bị chết đứng trong cảnh hoàng hôn", "Hoàng hôn trút xuống quanh Liêu lúc một dày". Rõ ràng, việc chọn thời khắc rất quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng tác phẩm. Mỗi chi tiết nói về cảnh vật đều nằm trong dụng ý tác giả. Mỗi tình một cảnh, cảnh theo tình mà biến đổi. Nếu như lúc mới đến làng, chưa biết tin gì về người yêu thì con đò đã đón anh. Giờ đây con đò đã sang ngang như người con gái đi lấy chồng để mặc một kẻ cô đơn trên bến đợi: "Đò đã về bên kia sông, anh phải cất tiếng gọi. Tiếng gọi đò lạnh lẽo vọng sang sông buồn bã dội vào vách núi đá". Liêu bị hụt hẫng quá lớn, thiếu mất hơi ấm tình yêu trong đêm mùa đông lạnh lẽo. Giờ đây trước mặt anh chỉ còn núi đá thăm thẳm lạnh lùng: "Liêu đưa mắt nhìn lên những ngọn núi thuộc đỉnh Trường Sơn đen ngòm, cao ngất, từ bi, đứng trong đêm dài thăm thẳm. Thỉnh thoảng, tiếng một con chim từ quy vọng lại, buồn đến xé ruột! Con suối lây buồn cũng đang năn nỉ, tỉ tê". Những cảnh miêu tả thiên nhiên này là rất quan trọng vì nó thể hiện tư tưởng tác phẩm. Sau khi tác phẩm ra đời, có nhiều ý kiến phê bình tác phẩm này là bi lụy, buồn rớt tiểu tư sản làm chấm dứt cơn sốt Mùa hoa dẻ trong hai năm 1957 - 1958 và đình chỉ lần in thứ ba với số lượng hàng vạn cuốn. Nhưng thực ra, đứng trước cảnh đất nước bị tàn phá như vậy mà không buồn thì không phải là người yêu đất nước. Đứng trước cảnh tình yêu tan vỡ mà không buồn thì không phải là người có tình yêu chân chính. Nhưng vấn đề đặt ra là nhân vật có dám biến đau thương thành hành động hay không?
Sau thời gian Liêu được cấp trên cho "tạm thời nghỉ công tác, ổn định tư tưởng" anh đã xông ra trận với một khí thế mạnh mẽ chưa từng có. Trong một trận đánh ở Trung Lào, trước mắt Liêu không còn là một không gian xám xịt như hoàng hôn nữa mà là một bình minh rực rỡ, dát một màu hồng của ý chí cách mạng sục sôi: "Chân trời phía đông rạng sáng. Mặt trời đỏ rực như sắt mới ra khỏi lò, đã vươn lên khỏi rặng núi phía sau lưng Liêu. Tia nắng chiếu thẳng vào khu rừng anh đang đứng. Lá cây rừng phơi sương óng ánh dưới nắng mai". Nhờ tinh thần dũng cảm của hàng vạn chiến sĩ như Liêu, "Chiến tranh tàn khốc chấm dứt", cũng đồng thời chấm dứt luôn những trận mưa đông buồn dằng dặc. Không gian sáng rực lên trong cảnh thanh bình "Trên sông, những cánh buồm căng gió lướt sóng. Dãy núi đá ven biển xanh thẫm lại trong làn sương lam. Cảnh biển bên ngoài doanh trại đang vẽ nên một vẻ đẹp phóng túng và thơ mộng". Tại khu an dưỡng, Liêu gặp lại cô nữ sinh Hiền từng biết nhau trên nhà ga. Một mối tình chớm nở và cũng có một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng để dệt nên mối tình của họ. "Mặt trăng hiền từ lên cao dần từ cửa sông, tỏa ánh sáng dịu dàng, ngọt ngào cho thế gian. Mặt sông lăn tăn sóng gợn, đón nhận ánh trăng như được tráng kim... Trăng lên dần, khoan thai - vạn vật như nín thinh, sợ rằng động đậy có thể làm trăng rụng mất. Thiên nhiên chìm đắm, mơ màng". "Nhân vật chính" của không gian đêm đó là ánh trăng. Trăng đã vô tư tác thành duyên nợ cho Liêu - Hiền mà không hề biết đến mối tình Liêu - Hoa. Vì trăng chưa từng chứng kiến Liêu - Hoa gặp nhau trong đêm bao giờ. Nên đêm nay, trăng đã vô tình. Một ngày nọ, bất ngờ Liêu được tin rằng Hoa vẫn còn sống, chưa có chồng và vẫn chung thủy chờ anh. Liêu quyết định chia tay Hiền để quay lại với Hoa. Hiền chưa hiểu ra điều gì nhưng cô bỗng thấy "chân trời phía tây sau lưng họ là đang có sấm chớp liên hồi (...) Trời bỗng dưng tắt gió. Khí hậu trở nên đột ngột oi bức. Có thể gió đổi chiều và cũng có thể giông sắp cuốn đến đây". Như vậy, nhân vật thiên nhiên đã hiểu trước Hiền mọi vấn đề và không tán thành vun đắp cho mối tình mới chớm nở này. Không gian bức bối có tác dụng dự báo sự đổ vỡ trong mối tình của họ. Đến khi Liêu đưa cho Hiền xem lá thư mới nhận của người yêu cũ thì vạn vật nín thở. "Thời gian chậm chạp, nặng nề trôi... Chớp lóe sáng. Một tiếng sét nổ xé trời. Cả Hiền lẫn Liêu đều giật mình. Và chưa ai nói được với ai lời nào. Tiếng sấm rền từ góc trời phía đông dội đến từng lúc, nghe như phát ra từ một sự đổ vỡ nào đó". Chia tay với Hiền, Liêu lên đường tìm lại người yêu cũ. "Thế rồi sau đấy mươi hôm, vào một buổi mai trên bến Vân Đồn, nắng sớm chan hòa đó đây, không gian được nhuộm một màu hồng phơn phớt, gió từ biển xa đưa vào lồng ngực từng con người một cảm giác mát ngọt, sóng Bạch Đằng mở rộng lòng cho hàng trăm cánh buồm chạy vát gió ra khơi (...) máy vẫn nổ đều, cất tiếng còi thúc giục". Không khí rộn rã của bến sông ngày đất nước thanh bình cũng là tâm trạng náo nức của Liêu trên đường về với nơi hạnh phúc ngọt ngào mà ở đó "Hoa sẽ tặng Liêu cả một mùa hoa dẻ". Mùa hoa dẻ mà lâu nay cô thôn nữ mang tên loài hoa đã cố gắng giữ gìn qua mọi gian khổ, hiểm nguy để sẵn sàng dâng tặng người mình yêu. Mùa hoa dẻ đi suốt cuộc tình của họ vì họ quen nhau từ lúc anh bộ đội hỏi thăm đường mà nhân tiện xin cô thôn nữ những chùm dẻ đầu mùa mang vẻ đẹp hoang sơ. Ám ảnh từ việc ấy đã khiến cô leo cây hái dẻ để rồi rơi xuống sông và nhờ đó họ yêu nhau. Từ ấy, chàng trai mang theo mùa hoa dẻ trong tim đi khắp các nẻo đường bom đạn. Sau những biến cố của tình yêu thời chiến, họ trở lại với mùa hoa dẻ. Chúng ta tin rằng mùa hoa dẻ sau chiến tranh sẽ đẹp hơn, ngọt bùi hơn mùa hoa dẻ trước chiến tranh. Bởi mùa hoa dẻ trong lòng họ đã "chín" hơn nhiều qua bao thử thách của thời gian. Đây cũng là một hình tượng đặc sắc, giàu hình ảnh, nhiều ý nghĩa. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà Văn Linh đã đặt tên cho tác phẩm này là Mùa hoa dẻ.
Như vậy, trong Mùa hoa dẻ, thiên nhiên trở thành một hình tượng sinh động, đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm. Nhờ có cảnh vật, ta mới hiểu thêm sâu sắc nội dung tư tưởng tác phẩm. Bức tranh phong cảnh vừa là nội dung, nhưng cũng vừa là phương tiện nghệ thuật để miêu tả tình yêu con người và lịch sử đất nước. Bộ ba hình tượng Lịch sử - Con người - Thiên nhiên được lồng ghép vào nhau, gắn bó lẫn nhau qua suốt các chặng đường thăng trầm của tổ quốc và tình yêu. Chỉ có khi nào đất nước được bình yên, thì con người mới có hạnh phúc, thiên nhiên mới có vẻ đẹp tuyệt vời. Có thể nói, không gian lãng mạn cách mạng đã góp phần quan trọng nhất làm cho Mùa hoa dẻ trở thành "sách gối đầu giường của lớp lớp quân đi".
PHẠM NGỌC HIỀN
* Giới thiệu tác phẩm:
Tiểu thuyết Mùa hoa dẻ của Văn Linh được NXB Thanh niên in lần đầu năm 1957. Được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt nên đầu năm sau, 1958, được tái bản lại. Cũng cuối năm đó, NXB Thanh niên định in lần 3 với số lượng hàng vạn cuốn thì bị đình bản. Sau Đổi mới, NXB Thanh niên cho in lại với số lượng 40.000 cuốn. Đến năm 1996, NXB Văn học lại in thêm 700 cuốn... Có thể coi đây là tác phẩm được in với số lượng nhiều nhất so với các tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975.
Những tài liệu về tác phẩm này được lấy từ lời giới thiệu trong lần in năm 1996 của NXB Văn học.
Được tin nhà văn - người lính Văn Linh kính mến đã về trời làm tôi ngỡ ngàng. Thương tiếc và tưởng nhớ nhà văn tài hoa và đức độ, xin ghi đôi dòng thay nén tâm hương thành kính dâng ông và tâm sự cùng bạn đọc
Thời trẻ của chúng tôi, những năm sáu mươi của thế kỉ trước ai đã đọc được "Mùa hoa dẻ" của Văn Linh thì được bạn bè coi như là người hùng! Tôi cũng trong số đó. Người hùng quá đi chứ! Công an, nhà trường và đoàn thanh niên nếu phát hiện ra anh ả mô có sách cấm " Mùa hoa dẻ" của Văn Linh trong cặp hoặc... trong nhà thì coi như... thôi rồi! Tôi cũng xuýt tí tẹo nữa là " thôi rồi" nếu không có câu trả lời thực lòng khi thầy giáo hỏi: Em có biết đó là sách cấm không? Tôi trả lời: Không biết! Thầy lại hỏi: Ai cho em mượn sách này? Tôi trả lời: Em thấy sẵn trong hộc bàn! Thầy lại hỏi: Các bạn có ai biết em có sách này không? Tôi đáp: Có. Thầy lại hỏi: Em có định cho ai mượn không? Tôi đáp: Có. Nhưng ...người đầu tiên không phải là thầy! Im lặng hồi lâu, thầy lại hỏi: Em có biết vì sao sách " Mùa hoa dẻ của Văn Linh bị cấm không? Tôi say sưa trả lời: Trước hết vì nó hay, nó hợp với lứa thanh niên đang sẵn sàng xả thân vì nước vì dân như hiện nay. Và, vì nó dạy cho lớp trẻ về tình yêu, lòng dũng cảm và trung thực.
Những năm chống Mỹ, tôi có thời gian công tác ở các huyên miền tây Hà Tĩnh, Quảng Bình và thị xã Đồng Hới, tôi được biết rất nhiều " người hùng" đã đọc và thuộc lòng " Mùa hoa dẻ" của Văn Linh. Tôi nghi ngờ ở đâu đó người ta nói " Thép đã tôi" là sách gối đầu giường của tuổi trẻ VN trong khi lại cấm " Mùa hoa dẻ " của Văn Linh. Tôi nghi ngờ có kẻ - rất có thể là nhà văn hoặc không phải nhà văn có cái tâm cái tầm ở gần chợ búa ghen ghét với " Mùa hoa dẻ" nên tung tin vịt ra rằng " Mùa hoa dẻ" của Văn Linh là sách bị cấm. Mà cái thời ấy chỉ cần một tin vịt kiểu đó tung ra là đủ giết một tác phẩm văn học và hành cho tác giả lên bờ xuống ruộng...
Trường An Vina Nhút