Trang chủ
Phân loại bài viết
Bài liên quan tới PNH
Giới thiệu sách, tạp chí
Cảm tưởng khi đọc "Thiện, ác và smart phone" của Đặng Hoàng Giang
Cảm tưởng đọc Loan mắt nhung của Nguyễn Thụy Long (Phạm Ngọc Hiền)
Điểm nhìn và giọng điệu trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Phạm Ngọc Hiền)
Mấy đặc điểm của văn xuôi Việt Nam sau 1975 (Phạm Ngọc Hiền)
Chợ quê ngày tết (Phạm Ngọc Hiền)
"Mẹ ơi, con muốn ra trận đánh quân thù". "Nhưng chiến tranh hết rồi, con ạ !". "Vậy thì làm thế nào để thể hiện chí nam nhi ?". "Con hãy dùng bàn phím đập ai đó để thể hiện bản lĩnh anh hùng" (Anh hùng bàn phím"- PNH)

Luyện thi cấp tốc Ngữ văn (thi vào Đại học, CĐ)
phamngochien.com - Thứ 3 ngày 29/03/2011 - 20 giờ:10 phút  

Sách "Luyện thi cấp tốc Ngữ văn", do Phạm Ngọc Hiền và Đào Tấn Trực biên soạn,
Sách được phát hành bởi công ty Văn hóa Khang Việt và NXB ĐHSP TP.HCM, 2011

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn sách "Luyện thi đại học cấp tốc môn Ngữ văn" là một tài liệu tham khảo rất hữu ích với các bạn học sinh đang chuẩn bị ôn thi vào Đại học, Cao đẳng. Công trình này bao gồm các bài viết của Tiến sĩ Phạm Ngọc Hiền với sự cộng tác bài vở của nhiều giáo viên, sinh viên đại học và các bài văn điểm cao trong các kỳ thi đại học. Đồng tác giả biên soạn là thầy giáo Đào Tấn Trực và nhiều đồng nghiệp khác, đặc biệt có sự tham vấn của Viện Nghiên cứu phát triển ngôn ngữ quốc tế (http: Vienngonnguquocte.edu.vn).

Cuốn sách được biên soạn theo chương trình thi Đại học, Cao đẳng hiện hành, có bám sát các dạng đề thi những năm gần đây. Mỗi bộ đề gồm bốn câu: một câu hỏi kiến thức văn học (2 điểm, thường là lý thuyết mở); một câu nghị luận xã hội (3 điểm) và hai câu nghị luận văn học (5 điểm). Có thể nói, đây là một trong những bộ sách có số lượng bài văn tham khảo nhiều nhất và mới nhất trên thị trường sách luyện thi đại học môn Văn hiện nay.

Hy vọng rằng cuốn sách sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích cho các bạn học sinh. Chúc các bạn thành công trong kỳ thi sắp tới.

TM. nhóm biên soạn

TS. Phạm Ngọc Hiền

 

ĐỀ 1

 

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu I (2,0 điểm)

Hãy nêu các đặc điểm cơ bản của văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975.

Câu II (3,0 điểm)

Hãy phát biểu ý kiến của mình trong một bài văn (khoảng 600 chữ) về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình".

PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)

Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Nêu cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp nghệ thuật ngôn từ trong đoạn đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng (từ đầu đến "Mai Châu mùa em thơm nếp xôi").

Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao để làm nổi bật tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Từ đó chỉ rõ tư tưởng nhân đạo của Nam Cao. 

 

Gợi ý bài làm

Câu 1

Văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 có những đặc điểm cơ bản sau:

1. Văn  học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Nền văn học mới hình thành cùng với sự ra đời của chế độ cách mạng. Những chặng đường của văn học gắn liền với những chặng đường lịch sử. Nhà văn cũng đồng thời là chiến sĩ, dùng ngòi bút để phục vụ cách mạng. Hiện thực lịch sử dân tộc trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các văn nghệ sĩ. Văn học xoay quanh hai đề tài cơ bản: bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH. Nhân vật trung tâm là người lính và con người mới trong lao động sản xuất, gắn bó đời mình với cách mạng.

2. Nền văn học hướng về đại chúng. Quần chúng nhân dân là đối tượng phản ánh của văn học. Nhà văn quan tâm miêu tả những đau khổ của người dân nghèo dưới chế độ cũ, cho thấy khát vọng vươn lên của họ và sự đổi đời nhờ cách mạng. Những tập thể quần chúng công - nông được miêu tả đẹp đẽ, tượng trưng cho sức mạnh của thời đại. Nhà văn có thái độ trân trọng, ngợi ca nhân dân và học hỏi nguồn văn hóa dân gian để tạo ra những tác phẩm trong sáng, dễ hiểu để phục vụ nhân dân. Từ phong trào quần chúng xuất hiện những nhà văn tài năng bổ sung vào đội ngũ nhà văn cách mạng, góp phần xây dựng một nền văn nghệ nhân dân.

3. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Khuynh hướng sử thi: Phản ánh những sự kiện lịch sử lớn của dân tộc, đó là công cuộc chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Tác giả nhìn nhận mọi vấn đề trên lập trường chung của cộng đồng. Nhân vật thường mang phẩm chất anh hùng, đại diện cho sức mạnh và vẻ đẹp dân tộc. Ngôn ngữ mang phong cách cao cả, trang trọng, giọng điệu ngợi ca hào hùng.  

Cảm hứng lãng mạn: Miêu tả cuộc sống lý tưởng, con người đẹp đẽ, yêu thương, vui tươi. Dẫu còn gian khó nhưng vẫn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Giọng thơ tin yêu, đôn hậu, trữ tình thắm thiết. Hình tượng thơ giàu màu sắc sinh động, bay bổng, tự do. 

 

Câu 2

Bài làm tham khảo

Trong thời đại khoa học tiên tiến như hiện nay, giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng. Học tập là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Vậy học hỏi để làm gì? Trả lời cho câu hỏi này, UNESCO đã đề xướng mục đích học tập:" Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình ".

Mục đích học tập mà UNESCO đề ra không chỉ phù hợp với thời đại hiện nay mà còn là mục đích rất nhân văn. Mục đích học tập phải đáp ứng hai yêu cầu: tiếp thu kiến thức và yêu cầu thực hành, vận dụng kiến thức, từng bước hoàn thiện nhân cách.

Trước hết "học để biết". Bài học đầu tiên của mỗi học sinh là học chữ cái, con số rồi cách viết, cách đọc. Chính từ nền tảng cơ bản nhất ấy đã dần hình thành nên một hệ thống kiến thức toàn diện ở mức phổ thông. Học ở đây là quá trình tiếp nhận kiến thức do người khác truyền lại và tự mình làm giàu vốn kiến thức cho mình. Qua việc học, chúng ta biết được những quy luật vận động của tự nhiên, những quy tắc chuẩn mực của xã hội, cách sống và hiểu hơn về giá trị cuộc sống. Thu nhận kiến thức có thể nói là mục đích học tập cơ bản nhất. Học tập trau dồi trí thức cho con người và làm cho trí tuệ con người sáng rạng ra.

Trong xã hội ngày nay, tri thức là tiền đề quan trọng. Để hoàn thành được công việc có kĩ thuật cao cần phải nắm vững lí thuyết để vận dụng cho phù hợp. Công nghệ hiện đại khác nhiều với việc cày cấy, luân phiên mùa vụ của nông dân trên đồng ruộng. Lí thuyết gắn với thực hành sẽ tạo ra năng suất công việc cao hơn. Qua đây, ta thấy được tác động hai chiều giữa "học" và "hành", "biết" và "làm", chúng bổ sung, tương tác với nhau, hai mặt của một quá trình.

Bên cạnh việc đề cao giữa thu nhận kiến thức và thực hành, UNESCO đã chỉ ra: "học để chung sống, học để tự khẳng định mình". Đây chính là mục đính học tập rất nhân văn. Học tập giúp ta hiểu hơn về thế giới xung quanh, làm cho những trạng thái tâm hồn ta trở nên linh hoạt hơn, đa dạng phong phú hơn. Ta đã biết mỉm cười trước niềm vui của người khác, biết đau trước những nỗi đau của con người, biết giúp đỡ, chia sẻ, cảm thông và tìm được chính mình. Tri thức tự nó đã là sức mạnh giúp cho con người rộng lượng hơn, vị tha hơn và tự tin hơn trong cuộc sống.

Ngày nay, cuộc sống hiện đại đã tác động đến suy nghĩ con người. Một bộ phận học sinh, sinh viên thời nay đã không xác định đúng đắn mục đích học tập của mình. Họ miệt mài trong học tập như cái máy, coi việc học như nghĩa vụ, trách nhiệm không thể chối bỏ, đối với cha mẹ, thầy cô. Họ học cho bằng cấp, cho sự nghiệp công danh mà họ trở nên thực dụng trong việc học và quên đi lợi ích của việc học, thiết nghĩ: nếu như cả xã hội này coi học tập chỉ là nghĩa vụ bắt buộc và chỉ dừng lại ở mức độ biết thì mỗi cá nhân sẽ không phát huy được tài năng, cá tính sáng tạo của bản thân và vô tình kìm hãm sự phát triển xã hội. Vì vậy việc xác định mục đích học tập là rất quan trọng.

Mục đích học tập mà UNESCO đề xướng rất đúng đắn, nhân văn. Qua đó ta định huớng học tập dẽ dàng hơn, việc học trở nên hiệu quả và hữu ích hơn. Tri thức như một cái thang dài vô tận, bước qua mỗi bậc thang ta có thêm hành trang để tự tin bước lên bậc kế tiếp. Học vấn làm đẹp con người!

 

Câu 3a

Bài làm tham khảo

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, chính từ ngữ đã làm nên giá trị nghệ thuật của thơ ca. Quang Dũng rất ý thức điều này, cho nên, trong bài Tây Tiến, ông đã rất chú trọng dùng các bút pháp ngôn từ để khắc họa vẻ đẹp bi tráng và lãng mạn của người lính. Có thể thấy rõ điều đó qua đoạn một của bài thơ.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Mở đầu bài thơ là một lời hô gọi tâm tình tha thiết với đoàn binh Tây Tiến. Tác giả như thảng thốt, ngỡ ngàng, không ngờ xa Tây Tiến thật rồi, những kỷ niệm về nó còn mới tinh nguyên ngày nào. "Nhớ chơi vơi" là một cụm từ mới lạ, mang tính sáng tạo, thể hiện nỗi nhớ vô hình, không trọng lượng, rất khó tả, dường như chỉ có ở những nơi nhiều sương khói mông lung như Tây Bắc. Toàn đoạn một gieo theo vần "ơi" và tác giả còn sử dụng khá nhiều từ cùng khuôn âm này: rồi, ơi, chơi vơi, mỏi, hơi, trời, khơi, đời, người, ôi, khói, xôi... Nó góp phần tạo ra nỗi nhớ chơi vơi, bồng bềnh như đang bơi trôi nổi trong biển mây trời Tây Bắc xa xôi. Nỗi nhớ nhung ấy được nhấn mạnh hơn qua việc điệp từ "nhớ" hai lần. Đó là nỗi nhớ xanh màu rừng núi, xanh màu của những giấc mơ tuổi trẻ.

Địa hình rừng núi Tây Bắc qua nét vẽ gân guốc của Quang Dũng thật hoang sơ, dữ dội:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Từ "dốc" lặp lại hai lần như để nhấn mạnh hình ảnh đồi dốc trùng điệp, rất nhiều dốc mà dốc nào cũng khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút. Những từ láy tượng hình đã vẽ nên sự hiểm trở, hoang vắng của núi rừng. Trong câu thơ: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, nhạc điệu bị bẻ gãy bởi dấu phảy nằm giữa câu, tạo dựng hình dáng gãy khúc của dáng núi, giống như dựng đứng, rất nguy hiểm. Điệp ngữ "ngàn thước" và các từ "lên", "xuống" cho thấy sự tương phản dữ dội của địa hình, rất cao và cũng rất sâu. Nó gây không ít khó khăn cho người lính khi leo lên và cũng rất nguy hiểm khi tụt xuống. Họ cũng rất tốn công sức khi đi hết "ngàn thước" này đến "ngàn thước" nọ, mà núi đồi thì trùng điệp vô tận, nghĩa là nỗi vất vả gian nan là vô tận, không kể xiết. Có lúc, họ tưởng chừng chạm phải trời. Biện pháp nhân hóa "súng ngửi trời" làm cho câu thơ giàu hình ảnh sinh động và lột tả được nỗi vất vả của người lính khi leo lên những đỉnh núi cao chọc trời.

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Địa bàn hoạt động của đoàn binh Tây Tiến không chỉ hiểm trở về địa hình mà còn kỳ bí, rùng rợn bởi không khí thâm u của chốn rừng sâu núi thẳm. Các điệp ngữ chiều chiều, đêm đêm cho thấy ngày nào cũng vậy, người lính luôn đối phó với những nguy hiểm đang rình rập mình. Từ chiều chiều gợi cảm giác buồn do láy âm "iu" và hai thanh bằng trầm. Đây cũng là thời gian giao hòa giữa ban ngày và ban đêm, ánh sáng và bóng tối, gợi cho những con người tha phương cảm giác buồn nhớ mông lung. Còn ban đêm, bóng tối bao trùm tăng thêm màu sắc huyền bí ghê sợ của rừng núi. Khung cảnh "oai linh" với tiếng thác gào thét, cọp gầm... mang không khí thần thiêng, ma quái như trong các sách dã sử, kiếm hiệp. Chi tiết "cọp trêu người" miêu tả rất hay cái dữ dội của rừng hoang, con cọp xem con người chỉ là một sinh linh nhỏ bé, yếu ớt để hù dọa, đùa bỡn. Thiên nhiên quá to lớn, dữ dội, con người quá nhỏ bé, yếu ớt, luôn bị cái chết rình rập.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

(...) Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời !

Trong điều kiện sống khắc nghiệt ấy, nhiều người đã bỏ xác dọc đường. Quang Dũng không ngại nói đến những hy sinh mất mác của người lính nhưng có điều, ông đã dùng mỹ từ pháp để giảm bớt tính bi thảm của nó. Từ "lấp" mang hai ý nghĩa: sương mù che lấp đoàn quân. Nhưng cũng cho ta liên tưởng đến việc lấp đất, lấp cát... chôn người chết. Núi rừng Tây Bắc chỉ toàn đá và mây. Không dùng đá để lấp được thì dùng mây. Những người lính mỏi mệt, đầy thương tật đi trong sương mù, nếu không đủ sức đi nữa thì giục xuống, không ai nhìn thấy anh ta vì đã bị sương lấp kín. Cụm từ "không bước nữa" là cách nói giảm (nhã ngữ) có tác dụng tránh gợi lên sự đau thương và tỏ lòng trân trọng, thành kính người đã khuất. Từ "gục" thể hiện rất đúng cái thần thái dũng mãnh của người lính ngay cả trong lúc chết. Chi tiết "bỏ quên đời" có thể nảy sinh hai cách hiểu trái ngược nhau. Một là người lính đã gục ngã giữa cuộc hành quân, xác nằm đè lên súng mũ, cái chết đến rất nhanh, không còn đủ sức để sửa soạn tư thế chết cho mình. Hai là người lính quá mệt mỏi, không đủ sức bước tiếp nên nằm gục xuống đất ngủ một giấc quên hết sự đời. Dù hiểu theo nghĩa nào, hai câu thơ vẫn nói lên được sự gian nan quá sức chịu đựng của người lính.

Để góp phần tạo dựng cái bi của cuộc hành quân, tác giả còn sử dụng nhiều bút pháp ngôn từ khác rải rác ở khắp đoạn thơ. Như việc sử dụng nhiều thanh trắc để lột tả cái dữ dội của núi rừng: "Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm", "thác gầm thét"... Cách sử dụng địa danh cũng rất ấn tượng: to lớn (sông Mã), lạ lẫm (Sài Khao, Mường Lát, Mai Châu), dữ dội (Mường Hịch), xa xôi (Pha Luông)... Nó thể hiện cái khung cảnh xa lạ, hiểm trở của núi rừng, kích thích trí tò mò, ham phiêu lưu mạo hiểm của các chàng lính trẻ Hà Nội. Đồng thời, góp phần nói lên sự gian lao vất vả của người lính Tây Tiến.

Đối lập với sự gian gian chết chóc, người lính cũng có những phút giây lãng mạn, sống trong bầu không khí đẹp đẽ, ấm áp tình người. Trong đêm sương lạnh giá, người lính xa nhà cần nhất hơi ấm tình người. Và những hình ảnh đẹp của núi rừng đã đến sưởi ấm lòng người lính trẻ: "Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Hình ảnh "hoa về" rất mới lạ, hơi khó hiểu và ẩn chứa nhiều ý nghĩa tế nhị. Thông thường, hoa chỉ đứng một chỗ cho bướm ong tìm tới, nay hoa chủ động tìm tới bướm ong. Đây có thể là một hình ảnh ẩn dụ chỉ những cô sơn nữ đã tới sưởi ấm lòng những chàng trai trẻ, giúp họ có thêm niềm vui, nghị lực trong cuộc sống. Nó đã trở thành những kỷ niệm không thể quên đối với các chàng lính trẻ hào hoa.

Binh đoàn Tây Tiến cũng có nhiều kỷ niệm đẹp với những buôn làng đậm tình nặng nghĩa dọc đường hành quân.

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

(...) Nhớ ôi, Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Trên đường hành quân, người lính khổ sở nhất vì ba thứ: lạnh lẽo, đói khát, ít có cơ hội giao lưu với dân địa phương. Mỗi lần gặp các buôn làng, những thiếu thốn ấy được đền bù đầy đủ: có lửa sưởi ấm (khói), có thức ăn ngon lành (cơm, thơm nếp xôi). Có người để trò chuyện, đặc biệt là các cô sơn nữ đang tuổi yêu đương khao khát giao lưu với những chàng trai trẻ. Cụm từ "mùa em" là một sáng tạo độc đáo và đa nghĩa. Đó có thể là mùa thu hoạch lúa, ngô của nhà em, suy rộng ra là mùa ấm no, hạnh phúc. Cũng có thể hiểu là mùa dậy thì của người con gái, mùa yêu đương đang bừng nở. Chỉ có hai từ mà tác giả vẽ lên được cái khung cảnh thi vị ngọt ngào của cuộc sống. Và chỉ phác họa vài nét cơ bản để bạn đọc tự hình dung ra cái cảnh lãng mạn như sau: người lính trẻ ngồi sưởi ấm bên bếp lửa, một cô gái xinh đẹp bẽn lẽn mang tới cho anh ta một chén cơm nếp xôi đầu mùa thơm phức... Những vất vả dọc đường hành quân đã tan biến theo làn khói bếp. Những câu thơ nhiều thanh bằng cũng góp phần diễn tả được tâm hồn nhẹ nhàng bay bổng của người lính.

Nhìn chung, trong đoạn một của bài thơ Tây Tiến, tác giả đã sử dụng khá nhiều biện pháp tu từ làm cho câu thơ hàm súc, giàu hình ảnh, gợi nhiều liên tưởng thú vị. Cách dùng từ ngữ, địa danh, gieo vần, nhạc điệu... cũng rất thành công và có nhiều sáng tạo. Vẻ đẹp nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ đã góp phần khắc họa thành công vẻ đẹp bi tráng và lãng mạn của người lính Tây Tiến.

TS. PHẠM NGỌC HIỀN

Câu 3b

Bài làm tham khảo

Nhận xét về nhân vật Chí Phèo, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh đã viết "Khi "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố và "Bức đường cùng" của Nguyễn Công Hoan ra đời, tôi chắc ít ai nghĩ rằng thân phận người nông dân dưới ách đế quốc phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào hơn nỗi khổ của chị Dậu, anh Pha. Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao thì người ta liền nhận ra rằng, đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người nông dân cùng ở một nước thuộc địa; bị giày đạp, bị cào xé, bị huỷ hoại từ thân hình đến nhân tính. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa... nhưng chị còn được gọi là người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại...". Nhưng khi ý thức nhân phẩm đã trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng, cự tuyệt để phải rơi sâu xuống vực thẳm của đau thương và tội lỗi. Cái bi kịch thê thảm và độc đáo của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao được tác giả miêu tả một cách thấm thía và cảm động là ở đó.

Chí Phèo vốn là một thằng không cha không mẹ, không họ hàng thân thích, không một tấc đất cắm dùi. Ngay từ khi mới đẻ ra hắn bị vứt bên cái lò gạch cũ bỏ không. Chí Phèo được một người thả ống lươn mang về nuôi, sau đó cho người đàn bà goá mù, rồi bác phó cối. Suốt quãng đời niên thiếu, Chí Phèo không có tuổi thơ. Hắn phải sống kiếp bơ vơ "đi ở cho hết nhà này sang nhà nọ". Đến tuổi trưởng thành, hắn làm anh canh điền cho nhà Lý Kiến, một tên địa chỉ cường hào lọc lõi khét tiếng độc ác gian hùng.

Tuy phải làm thân trân ngựa, lao động cực nhọc, bị đè nén bóc lột thậm tệ, nhưng đã có một thời Chí Phèo là người nông dân lương thiện, khoẻ mạnh về thể xác, lành mạnh về tâm hồn, hắn hiền như đất, giàu lòng tự trọng, biết phân biệt giữa tình yêu cao thượng, và cảm giác nhục dục thấp hèn. Hắn đã có mơ ước bình dị: "chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải... khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm"

Nhưng cái quãng đời lương thiện ấy bị chấm dứt nhanh chóng bởi bàn tay độc ác của giai cấp thống trị. Chỉ vì cái cớ ghen tuông vu vơ, Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù. Mỉa mai thay, nhà tù, cái công cụ cải tạo con người của chế độ thực dân đã tiếp tay cho bọn phong kiến, cường hào, địa chủ để giết chết phần người trong Chí Phèo, biến hắn từ người nông dân lương thiện thành con người lưu manh, bị loại bỏ ra ngoài xã hội con người.

Trở về làng Vũ Đại, Chí Phèo xuất hiện trong bộ dạng thật kỳ quái "cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết!... mặt nó là mặt của một con vật lạ". Chí Phèo ngật ngưỡng "vừa đi vừa chửi", vừa nguyền rủa. Nhưng dường như đằng sau tiếng chửi lảm nhảm ấy, là nỗi căm phẫn, là vật vã, tuyệt vọng của một con người thèm khát được giao tiếp với đồng loại mà không thể được. Cả làng Vũ Đại không ai hiểu, không ai thông cảm với hắn và ai cũng nghĩ "hắn trừ mình ra", không ai thèm chửi nhau với hắn. Xung quanh chỉ còn là một sự im lặng đáng sợ. Thế là Chí Phèo vẫn chỉ còn một mình giữa sa mạc cô đơn. Hắn cứ chửi rồi lại nghe "Thành thử chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu! Thật là ầm ĩ!". Giờ đây sống giữa bọn thống trị độc ác như hổ dữ, Chí Phèo không thể hiền lành nhẫn nhục như trước nữa. Bởi càng hiền lành, nhẫn nhục thì càng bị lấn xuống bùn không thể ngóc đầu lên được. Muốn sống thì phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ... Muốn thế thì phải liều, phải mạnh. Những thứ ấy, Chí Phèo tìm thấy ở rượu. Và thế là Chí Phèo triền miên trong cơn say. "Hắn say thì hắn làm bất kỳ việc gì người ta sai hắn làm"..."Hắn tác quái cho bao nhiêu dân làng... phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện". Những hành động của Chí Phèo là biểu hiện sự phản ứng gay gắt quyết liệt của người nông dân lương thiện bị dồn đến mức đường cùng. Nhưng tính chất tha hoá lưu manh của Chí đã làm cho phản ứng đó trở nên mất phương hướng, tiêu cực và rất nguy hiểm, dễ bị kẻ thù mua chuộc lợi dụng. Càng ngày, Chí Phèo càng rơi sâu xuống vực thẳm của đau thương và tội lỗi, trượt dài trên con đường tha hoá không lối thoát. Hắn lâm vào một tấn bi kịch đầy nghịch lý": Vừa là nạn nhân đau thương của giai cấp thống trị, cường hào địa chủ, vừa là con quỷ dữ đối với dân làng Vũ Đại. Mọi người đều sợ và tránh mặt hắn mỗi lần hắn đi qua.

Giữa bóng tối mênh mông của cuộc đời, vào một đêm trăng thơ mộng, Chí Phèo được gặp Thị Nở. Được sự chăm sóc giản dị và tình thương yêu chân thành mộc mạc của Thị Nở, bản chất người lao động lương thiện trong Chí Phèo đã thức dậy: Hôm nay, Chí Phèo mới lại nghe thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng gõ mái chèo đuổi cá trên sông; tiếng cười nói của mấy người đi chợ về... Những âm thanh quen thuộc trong cuộc sống lao động bình dị đó hôm nay bỗng vang động sâu xa trong trái tim Chí Phèo như tiếng gọi tha thiết của sự sống vẳng lên trong đôi tai lần đầu tiên tỉnh táo của hắn. Chí Phèo được ăn bát cháo hành trao từ bàn tay yêu thương của Thị Nở và hắn bỗng nhận ra cháo hành ăn rất ngon. Hương vị của cháo hành hay hương vị của tình yêu chân thành và cảm động; của hạnh phúc giản dị và thấm thía lần đầu tiên Chí Phèo được hưởng? Lần đầu tiên "mắt Chí Phèo ươn ướt" và hắn cười, "cái cười nghe thật hiền". Giờ đây, Chí Phèo mới trở lại là mình. Chí Phèo rưng rưng cảm động và tha thiết trở lại với xã hội loài người. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã loé sáng như một tia chớp trong cuộc đời tăm tối triền miên của Chí Phèo.

Tình thương yêu đã thức tỉnh Chí Phèo, hắn cảm thấy "thèm lương thiện! muốn làm hoà với mọi người biết bao!". Nghĩa là Chí Phèo vô cùng khao khát được mọi người kết nạp hắn trở lại "cái xã hội bằng phẳng của những người lương thiện". Tình yêu của Thị Nở đã mở đường cho hắn trở lại làm người. Và câu trả lời của Thị Nở sẽ quyết định số phận của của Chí: được kết nạp trở lại xã hội loài người, hay phải vĩnh viễn bị đày đoạ trong kiếp sống thú vật? Chí Phèo hồi hộp hi vọng. Nhưng cánh cửa hy vọng vừa hé mở đã bị đóng sầm ngay lại. Vì bà cô của Thị không cho phép đâm đầu đi lấy một thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Nhưng trách gì bà cô! Bà cô là hiện thân của thành kiến, định kiến tồi tệ của làng Vũ Đại, của xã hội cũ. Lâu nay, mọi người trong làng quen gọi hắn là quỷ dữ mất rồi! Thế là Chí Phèo thực sự rơi vào một tấn bi kịch tinh thần đau đớn: bi kịch bị xã hội dứt khoát cự tuyệt quyền được làm người.

Chí Phèo lại uống rượu và xách dao ra đi. Nhưng hắn không rẽ vào nhà Thị Nở như dự định ban đầu, mà lại đến thẳng nhà Bá Kiến. Trong cơn đau khổ và tuyệt vọng, Chí Phèo càng thấm thía tội ác của kẻ đã cướp cả hình người và hồn người của mình là Bá Kiến. Chí Phèo lần này quyết đến trả thù. Đứng trước Bá Kiến, Chí Phèo đã chỉ tay vào mặt lão và dõng dạc đòi quyền làm người, đòi được làm lương thiện. Chí Phèo đã vung dao giết chết Bá Kiến, Chí Phèo cũng quay lại tự kết liễu cuộc đời mình. Chí Phèo chết vì không tìm được lối thoát, vì xã hội không cho hắn sống. Ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí Phèo không bằng lòng sống kiếp thú vật nữa, nên đã tìm đến cái chết. Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc sống. Và cái chết của Chí cũng là cái chết thê thảm của một con vật. Nó có ý nghĩa tố cáo xã hội một cách sâu sắc và mãnh liệt

 Trước đây, để bám lấy cuộc sống, Chí Phèo đã từ bỏ nhân phẩm. Giờ đây ý thức nhân phẩm đã trở về, thì Chí Phèo lại phải thủ tiêu cuộc sống của chính mình. Câu hỏi cuối cùng của Chí Phèo: "Ai cho tao làm người lương thiện?" là một câu hỏi chứa chất phẫn uất, đau đớn còn làm day dứt hàng triệu trái tim người đọc: Làm thế nào cho con người được sống cuộc sống con người trong cái xã hội thối nát tàn bạo vùi dập nhân tính ấy. Câu hỏi của Chí Phèo vang lên trong tác phẩm là một câu hỏi lớn, ai oán tuyệt vọng.

Từ số phận nhân vật Chí Phèo, Nam Cao muốn khái quát một hiện tượng phổ biến ở nông thôn nước ta trước Cách mạng: một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá.

Qua cuộc đời Chí Phèo, Nam Cao không chỉ tỏ sự đồng tình với khát vọng lương thiện, mà còn bày tỏ thái độ lên án gay gắt những thành kiến, định kiến tồi tệ, và lên án xã hội đã vùi dập nhân tính, làm tha hoá con người; đồng thời tìm thấy dưới đáy tâm hồn tưởng như u mê, cằn cỗi, tăm tối của người lao động vẫn lấp lánh ánh sáng nhân phẩm. Từ đó, vút lên một tiếng kêu khẩn thiết hãy cứu lấy con người. Điều ấy làm cho Nam Cao trở thành một trong những nhà nhân đạo lớn nhất, sâu sắc nhất của văn học hiện thực phê phán.

Sách do công ty Văn hóa Khang Việt phát hành, có bán trong các nhà sách toàn quốc.

 


Các bài đã đăng:
Giới thiệu tác giả
Suy ngẫm - Tin văn
  quốc dũng: Tôi là một người con quê bà rịa vũng tàu, sinh ra và lớn lên tại vùng đất biển này. Vì thế tôi rất tự hào vì quê hương mình ngày càng phát triển ...
  Hoàng Yến Nhi: Bây giờ mới dừng chân ghé ngang nơi này. Cảm ơn thầy đã đăng rất nhiều bài có ích thường xuyên, mong thầy sẽ duy trì thói quen ấy lâu dài ạ! ...
  vu thi hoa ban: da gan 6 nam roi, nay em moi ghe tham web thay. thay cong tac o dau, con ve binh duong day nua khong thay? chuc thay manh khoe. ...
  Lê Nhất: Tham khảo thêm thể loại hội họa khác như vẽ tranh 3d ở đây ...
  Nguyễn Quang Anh: Chí lí vì nhiều lần mình cũng rơi vào điều ấy. Vậy mình làm điều gì để quên bạn nhỉ! ...
  trinhthithuong: Các bạn sinh viên thân mến !
Khi các bạn ngồi trên ghế nhà trường này (Cơ sở 2 ĐHSG) các bạn nên tìm hiểu về cơ sở này cho kỹ nhé! để biết mà cám ...
Sách của Phạm Ngọc Hiền
Liên kết trang web
Tìm kiếm
Từ khoá tìm kiếm
Lượt truy cập
Đang online: 93
Hôm nay: 2,412
Hôm qua: 2,776
Tổng cộng: 10501065
Trang web đồng hành
Song ba
Tapchivan

© Copyright 2009 - Phạm Ngọc Hiền - Email: phamngochien.com@gmail.com