Đối thoại tập thể trong sáng tác của Tô Hoài trước 1945 (TS. Mai Liên Giang - ĐH Quảng Bình)

       Tô Hoài được xem là một trong những nhà văn kể chuyện có duyên. Sự hóm hỉnh, khả năng quan sát, phân tích sắc sảo trong lời văn hiền từ của ông đã khái quát được chiều sâu cuộc sống người dân ở một vùng quê miền Bắc Việt Nam.  Ông kể chuyện như thể để tâm sự, để giãi bày nỗi lòng, để tạo những cơ hội cho tác giả vừa kể vừa tả những gì mình thích. Nhiều mẩu chuyện rất bình thường nhưng được nhà văn kể thật kiên nhẫn, tạo nên dáng vẻ riêng biệt của các sự kiện. Có những lúc Tô Hoài như đang tự nói với mình, tự kể với mình nhưng người đọc lại muốn chen vào thú nhận rằng: Có tôi đang ở trong đó. Cảm giác về nhân vật, về chi tiết, sự kiện nhờ thế tạo được độ chân thật, tin cậy vừa đủ trong lòng người đọc. Một trong những nét duyên riêng của Tô Hoài đó chính là cách tạo nên những đa thoại trong tác phẩm mà chúng tôi gọi đó là những cuộc thoại "tập thể".

          1. Các cuộc thoại trong sáng tác Tô Hoài không chỉ có hai, ba  người, mà có khi được rất nhiều người tham gia. Câu chuyện trong các cuộc thoại đôi lúc là chuyện bâng quơ, chuyện ngoài đường. Nhìn bên ngoài, tưởng chừng không liên quan gì đến nội dung câu chuyện tác giả đang kể. Những câu nói chủng chẳng, nghểnh ngãng ấy thực chất  đang va đập, cào xé vào nhau để cùng phán xét một sự kiện. ở các dạng hội thoại này, tác giả rất lưu ý đến vai trò người tham gia hội thoại, cố ý lược bỏ các lời dẫn thoại, giảm bớt ngôn ngữ người kể chuyện. Điều này tạo nên chỗ đứng vừa vững chãi, vừa nổi trội của các hội thoại trong chuyện. Cũng có thể xem đây là một trong những biểu hiện của tính cộng đồng ngôn ngữ ở Tô Hoài. Trong "Giăng thề", có đoạn tác giả dừng lại ghi lấy một mẩu chuyện ngoài đường, không hề có lời dẫn thoại hay giới thiệu gì trước đó.

          "- Nhà ai có đám thứ gì mà đốt tràng pháo dài thế ?

            - Cưới con gái ông chánh Đặng.

            -... (lược bỏ bốn lời thoại)

            - Đâu như có thế. Tay đôi đã dan díu  khiếp lắm rồi.

            - Con gái bây giờ đoảng cả" (1) 

          Tưởng như cả đám người đông đúc đang xôn xao, léo nhéo nói chuyện. Sáu tham thoại đầu còn có nội dung gắn bó mất thiết với chuyện đang kể ở phần trên. Ba câu nói sau của hội thoại như là những câu nói bâng quơ, kể lể hằng ngày của người dân làng Nghĩa Đô. Nhưng xét đến cùng tất cả những câu nói này đang "xỉa xói" đến thói tật  ăn ở lật lọng, tráo trở của Miến. Mặc dù các câu trong hội thoại không hề nói thẳng ra điều đó. ẩn đằng sau hội thoại này là nỗi xót xa cho mối tình trong sáng của một đôi trai gái nơi miền quê bị nếp sống đô thị làm thoái hoá. Lời thoại cuối cùng để lộ lòng thương cảm của mọi người với anh giáo Câu. Có khi cuộc thoại là tập hợp lời của các cô gái đang bàn tán với nhau. Người đọc không phân biệt được lời thoại nào phát ra từ nhân vật nào. Mục đích các cuộc đối thoại này chỉ tập trung làm rõ một chủ đề đã được trình bày trước đó.

          "- Của chị  thì  Thánh dạy sang năm lấy chồng đấy.

           - Chị cũng thế.

           - Cả ba đứa cũng lấy chồng một hôm.

           - Lấy chồng thì khổ bỏ mẹ !

           - ... (Lược bỏ ba lời thoại

          - Về nhớ mua quà nhé, nhớ đem cả anh nhân tình công tử Hà nội về cho tớ xem mặt nhá" (2). Đến câu cuối của cuộc thoại này, người đọc mới vỡ lẽ: tất cả câu nói gần, xa gì cũng đang tập trung trêu goẹo tình yêu cô Miến với anh giáo Câu.

           Cuộc thoại này còn ở dạng tập hợp những lời báo tin cho tập thể:

         "- Bà Móm tự tử

          - ở đâu.

          - Ngoài ao giếng" (3)

Tác giả không giới thiệu rõ ai nói, chỉ biết sau cuộc đối thoại này, cả làng Nghĩa Đô nháo lên về chuyện bà Móm tự tử.

          ở chuyện Một người đi xa về, kiểu hội thoại này lại tập trung vào những người đàn bà  hàng nước:

          - Con mẹ mặc nô chỉ hay làm công làm cán. Bà lão Miến bà ấy vẫn khinh ra con chó. Vỏ chứ ruột thịt đếch gì !

          -  Trông thằng Tại bấy giờ khác nhỉ ?

          - Chuyện! Nó đi Sài Gòn tám, chín năm rồi đấy. Tôi còn nhớ cái năm đói ấy nước to lắm.

          - Chóng nhỉ" (4)

          Cuộc đối thoại này rõ ràng có nhiều mục đích. Lời thoại đầu tiên nhằm chỉ trích bác gái hai Trụy, chẳng phải họ hàng ruột thịt gì cũng xun xoe với "Người đi xa về". Câu nói buông ra thật đúng lúc : Vỏ chứ ruột thịt đếch gì! Người đọc hình dung được cả nét mặt nhân vật đã phát ra câu nói này. Các lời thoại tiếp theo đột ngột chuyển mục tiêu sang anh Tại. Với đối tượng "Người ở xa về", người nói có vẻ dè dặt hơn, ít bộc toạc hơn. Song họ vẫn không bỏ được thói quen buông những câu nói tự do, không cần sắp xếp, không cần giữ ý tứ. Đang nói chuyện Tại đi Sài Gòn, lời thoại bỗng chen vào: "Tôi còn nhớ cái đói năm ấy..." cứ như là chuyện ấy cứ ám ảnh mãi trong suy nghĩ của họ, chỉ chờ có cơ hội là bộc lộ ngay.

          Cuộc thoại có khi là những câu hỏi vang từ cửa nhà này sang cửa nhà khác mà không có câu trả lời.

          -"Cái gì thế, hở ông ?

          - Sao vậy, hả bác ?

          - Động việc gì thế, anh  Cu ?

          - Nào tôi biết được". (5)

          Có lẽ tác giả nhường quyền trả lời cho độc giả. Các câu hỏi liên tục, dồn dập như thể bắt người đọc phải động não, suy nghĩ về nỗi khổ thống thiết của người đàn bà có mang đang bị cả làng hỏi tội. Cuộc thoại có khi còn bắt đầu bằng một câu hát bâng quơ, "ti tỉ" vang lên từ một trong số các nhân vật:

          - Này chứ chị em ơi ! Sáng trăng suông sáng cả đêm hội rằm ; nửa đêm về sáng, trăng bằng ngọn tre.

          - Hát hay thế sao không đem cái chậu đi đựng tiền ?

          - Nói bậy. Thích thì hát chơi.

          - Thích thì hát chơi. Con này hôm nay động cỡn hay làm sao ? (6)

          Ngôn ngữ trong lời thoại tự nhiên, mang tính chất bông đùa. Qua âm thanh cuộc thoại này, người đọc cảm giác được niềm vui, sức sống tươi trẻ của những con người làng Nghĩa Đô ở phần đầu tác phẩm "Quê người". Cuộc đa thoại này có khi được pha đủ các loại giọng của đám thanh niên trai làng:

          -"Các chị lễ phật dẻo quá.

          - Các chị niệm nam mô đi nào !

          - Mời các chị đáo vòng. Ăn chai bia ngon ơ.

          - à có chị nào vào chơi cờ thế ?" (7)

          Những lời bông đùa, nghịch ngợm này không phải để hỏi, cũng không phải để trả lời. Logíc ý nghĩa từng lời thoại nhìn bên ngoài có vẻ rất hời hợt rời rạc. Thực chất đây cũng là lời giới thiệu các trò chơi phong phú trong các ngày lễ hội của dân làng Nghĩa Đô. Giọng nhân vật vì vậy thật trong sáng vui vẻ, phấn khởi. Người đọc có thể hình dung được cảnh người chen đi, kẻ đẩy lại sôi nổi, đông đúc của buổi hội. Có vẻ như trong các hội làng, đám thanh niên trai gái là đối tượng nói nhiều nhất, vui nhiều nhất, và họ cũng năng động nhất. Có những cuộc thoại của họ thật dài. Có lẽ vì thế mà tác giả dành một số lượng câu chữ khá lớn cho họ phát ngôn một cách tự do. Người đọc không cần biết khuôn mặt, bàn tay của họ cụ thể ra sao. Tác giả lược bỏ bớt các tính từ tình thái, lược bỏ hoàn toàn lời dẫn thoại. Các tham thoại cứ thế vang lên từ mọi phía:

                   -"Dơ quá. Hát chèo mà cầm chầu !

                   - Cái thằng khán mè mà dở hơi, vừa say rượu bí tỉ đấy".

                   - (... Lược bỏ 4 lời thoại)

                   - ấy ! mới ai hoài hơi. Rồi lại đâm thù đâm oán. Này con bé nào mà trông kháu thế kia ?

- (... Lược bỏ 4 lời thoại)

                   - Nó đương sợ !

                   - Kia kìa ! Thằng khói đi đến tận sát đít con Ngây". (8)

          Mới nghe bạn đọc tưởng đây là những câu nói của đám trẻ con đang chơi với nhau. Không hẳn thế! Ngôn ngữ trong sáng tác Tô Hoài buộc người đọc vận dụng thêm cả khả năng thị giác để hiểu. "Con bé kháu quá", chính là nguyên nhân, là hình ảnh tập trung mục đích của tất cả các tham thoại. Điều này buộc người đọc phải hình dung ra cái "kháu" bằng thị giác. Tuy vậy, các tham thoại mở đầu cuộc thoại này chưa trực tiếp nói đến con Ngây, thằng Khói. Bởi tâm lý của mọi người là không muốn ai đánh giá mình giống người hay đưa chuyện. Mặc dù chính bản thân họ là người đưa chuyện. Vì vậy mở đầu cuộc thoại là những lời thoại bâng quơ quanh chuyện lễ hội. Họ định nói thêm những chuyện ngoài rìa nữa "ấy ! Mời ai hoài hơi..." nhưng sợ nói mãi, cuộc thoại sắp kết thúc mà vẫn chưa đạt được mục đích. Họ tìm cách đẩy lời thoại đến gần sát mục đích cuộc thoại: " Này, con bé nào mà trông kháu thế kia". Cuối cuộc thoại, các nhân vật không thể giấu giếm được nữa, họ nói toạc ra: "Kìa thằng Khói đi sát tận đít con Ngây". Hơn nữa, cuộc thoại có nhiều nhân vật tham gia, không thể có logíc chặt chẽ, có trật tự như cuộc thoại  chỉ có hai nhân vật.       Các cuộc đối thoại này có khi còn lan ra từ đám đông:

          - "Nhiêu thục xóm Giếng phỏng ?

          - Cái đĩ Ngây ư !

          - Con bé thế mà đốn. Hừm, thời buổi này, ai biết đâu được. Mới nứt mắt ra.

          - Con gái không có mẹ là chúa đoảng.

                   Nhưng có một người nghĩ kỹ hơn, nói:

          - Thôi, ắt lại nói chuyện xấu nhau, con gái nhớn mang tiếng thế khó mà lấy được chồng. Đời thâm thực" (9). Bốn tham thoại trước đơn độc "chiến đấu" với nhau. ý hẳn lời này cay cú hơn, lời kia độc địa, xứng đáng hơn với cái đĩ Ngây. Tác giả không hề nói rõ ai nói. Chỉ là câu nói của đám đông. Nếu không, những nhân vật này lộ rõ chân dung e cũng mang vạ vào thân vì những câu nói của họ. Tham thoại cuối cùng có vẻ ý tứ, nhẹ nhàng, có đầu đuôi hơn một chút. Nó được tác giả xen vào giới thiệu "một người nghĩ kỹ hơn, nói", nhưng cách giới thiệu vẫn chung chung, không cụ thể. Các cuộc thoại trong truyện Tô Hoài ở dạng này vì vậy cứ văng vẳng âm thanh lào xào, không to lắm, cũng không nhỏ lắm. Tính chất phẩm bình, nhận xét, tranh luận, lộ rõ ra trong từng cuộc thoại.

          2. Trong các cuộc thoại, Tô Hoài còn để cho các nhân vật nói tục rất tự nhiên như là một cách để giải toả những bức bối của cuộc sống hằng ngày. Từ tác giả hay dùng lúc ở dạng này, khi ở dạng khác như: "con chó", "đồ chó", "nằm  với chó".... Chẳng hạn trong  truyện Lụa, ông Hương Rền phát sẳng:

      - "Không lấy nó thì lấy chó à !

      - Đừng có cho người ta chạm ngõ.

      - Tao bằng lòng với người ta rồi" (11) 

          ở chuyện Ông  dỗi, câu văng tục này lại phát ra từ cuộc cãi vã của đôi vợ chồng già:

                   - Mát mẻ gì thế.

      - Hừm, ông lại thèm mát mẻ đứa nào à ? Này ông bảo thực... ông bảo thực cho mà biết ...

      - Biết cái gì ?

     - Ông không phải là con chó, biết chửa ? Cu Soong bú dù cái nhà quê nhà mày.

       - à ! Ông có là chó đâu, ông chỉ được ăn hai bát cơm ngữ. Con chó thì vào nồi rồi  (12).

Tất cả những lời thoại thô tục ấy đều có nguồn gốc sâu xa từ cuộc sống nghèo đói, khổ cực, thiếu thốn của người dân lao động. Đến chị vợ anh Duyện cũng vì vậy mà tung hết các "chưởng" khi nói tục:

      - Ôi thiên địa giời đất ơi ! ới cha ơi ! ...

      - Mày đẻ lắm thì mày nuôi nhiều.

      - Ôi ông Cả bà Nhớn ơi. A ! ...  bấy lâu tôi nằm với chó đấy a ..." (13). ở các cuộc đối thoại này, người đọc ngẫm ra một điều gì thật chua xót. Lẽ nào mỗi khi quá cùng quẫn, con người dễ bán mình cho "con quỹ điêu ngoa"! Tuy nhiên, cứ sau mỗi trận lôi đình ấy, con người lại làm lành với nhau. Mỗi nhân vật có mỗi kiểu giảng hoà. Bà lão Múi thì "lẳng lặng đưa chìa khoá cho chồng". Chị Duyện thì đến cuối cuộc cãi vã cũng dịu dàng trở lại... Điều này cho thấy, trong tính cách thô mộc, chua ngoa của người thôn quê trong sáng tác Tô Hoài bao giờ cũng lấp lánh nét đẹp bình dị của người dân Việt Nam.

          Hình như trước các cuộc đối thoại trong văn Tô Hoài luôn có một khán giả đang ngồi xem, nghe và rất muốn phản bác lại tác giả. Nhiều người cho rằng, văn xuôi Tô Hoài giàu chất lý luận. Nhưng ở những cuộc đối thoại này, chất lý luận đã chuyển dần thành hình tượng văn chương. Giai điệu, tiết tấu trong thế giới tự nhiên đã thấm vào giọng văn Tô Hoài. Từ giọng trầm hạ xuống sau mỗi cuộc đối thoại, người đọc nhận ra nhiều ý nghĩa thâm thuý trong sáng tác của ông. Đọc tác phẩm trước 1945 của Tô Hoài vì vậy được xem như là việc thực hiện chuyến dã ngoại dài ngày rất thú vị. Thế giới tâm hồn con người miền Bắc Việt Nam, nếp sống văn hoá, phong tục... là những phương tiện tạo nên cuộc hành trình đặc biệt này. Với Tô Hoài, hiện thực là chất liệu quý giá để thể hiện ý tưởng sáng tạo. Cuộc thoại bắt nguồn từ cuộc sống nhưng trong sáng tác Tô Hoài chúng không hề đồng nhất mà chỉ đồng dạng. Tác phẩm của nhà văn muốn nói rằng con người dù ở đâu, dù thuộc đẳng cấp nào cũng khát khao có được một cuộc sống bình yên. Họ phải phấn đấu đến cùng để được sống như con người.

 

TS. Mai Liên Giang

Trường ĐH Quảng Bình 

Tài liệu tham khảo

(1), (2), (3), (4), (5) Tô Hoài, Tuyển tập Tô Hoài, Nxb Văn học, Hà Nội, T1, tr 392, 385, 173, 207, 281 .

(6), (7), (8), (9), (10) Tô Hoài, Tuyển tập Tô Hoài, Nxb Văn học, Hà Nội, T2, tr 20, 25, 28, 33, 89 .

(11), (12), (13): Tô Hoài, Tuyển tập Tô Hoài, Nxb Văn học, Hà Nội, T1, tr 159, 239, 153.

 


Phamngochien.com - 14:05 - 14/04/2011 - Bài của văn nghệ sĩ          

Gửi bình luận